Cổ tức bằng tiền là gì?

Cổ tức bằng tiền (Cash Dividend) là khoản tiền mà công ty trả cho các cổ đông hiện hữu từ nguồn lợi nhuận sau thuế.

Cổ tức bằng tiền
💡
Cổ tức bằng tiền là hình thức chi trả cổ tức phổ biến và được nhà đầu tư ưa chuộng nhất.

Cổ tức bằng tiền còn được biết đến như là khoản thu nhập của cổ đông từ việc đầu tư vốn. Do đó, khi nhận cổ tức cổ đông sẽ phát sinh nghĩa vụ thuế đối với khoản thu nhập này.

Cổ tức bằng tiền còn được áp dụng để định giá cổ phiếu. Phương pháp định giá này còn được gọi là “chiết khấu dòng cổ tức” - Dividend discount method, viết tắt là DDM.

Cổ tức bằng tiền (Cash Dividend) là khoản tiền mà công ty trả cho các cổ đông hiện hữu từ nguồn lợi nhuận sau thuế.

Mục đích cơ bản của một công ty là tạo ra lợi nhuận cho những chủ sở hữu của nó. Khi công ty làm ăn có lãi, một phần lợi nhuận được tái đầu tư vào việc kinh doanh, gọi là lợi nhuận giữ lại, phần lợi nhuận còn lại được chi trả cho các cổ đông.

Đặc điểm

Cổ tức bằng tiền là hình thức chi trả cổ tức phổ biến và được nhà đầu tư ưa chuộng nhất.

Tại Việt Nam, cổ tức chi trả bằng tiền phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam và có thể được chi trả bằng séc, chuyển khoản hoặc lệnh trả tiền gửi bằng bưu điện đến địa chỉ thường trú hoặc địa chỉ liên lạc của cổ đông.

Sau khi chi trả cổ tức bằng, lượng tiền mặt của doanh nghiệp sẽ giảm đi.

Cổ tức bằng tiền còn được biết đến như là khoản thu nhập của cổ đông từ việc đầu tư vốn. Do đó, khi nhận cổ tức cổ đông sẽ phát sinh nghĩa vụ thuế đối với khoản thu nhập này.

Cổ tức bằng tiền còn được áp dụng để định giá cổ phiếu. Phương pháp định giá này còn được gọi là “chiết khấu dòng cổ tức” - Dividend discount method, viết tắt là DDM.

Tỷ lệ chi trả cổ tức

Tỷ lệ chi trả cổ tức có thể được hiểu theo hai nghĩa:

Thứ nhất, đó là tỉ lệ của tổng số tiền cổ tức chi trả cho các cổ đông trên lợi nhuận ròng của công ty. Có thể hiểu, lợi nhuận sau thuế của công ty sẽ được phân bổ cho hai mục đích: (1) giữ lại để trả nợ hoặc tái đầu tư vào các hoạt động cốt lõi, khoản này được gọi là “lợi nhuận giữ lại” (Retained Earnings). Và (2) Khoản tiền được trích ra chi trả cho các cổ đông hiện hữu sẽ là cổ tức.

Thứ hai, tỷ lệ trả cổ tức bằng tiền được dùng để tính số tiền mà cổ đông sẽ nhận được trên mỗi cổ phiếu đang năm giữ. Với nghĩa này, số tiền mà cổ đông sẽ nhận được sẽ được tính theo công thức sau:

Số tiền cổ tức được nhận = Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền x Mệnh giá cổ phiếu x Số lượng cổ phiếu được nhận cổ tức

Ví dụ: ngày 16/08/2021, công ty FPT chi trả cổ tức bằng tiền với tỷ lệ 10%, mệnh giá cổ phiếu là 10.000 đồng. Như vậy, nếu một nhà đầu tư A có 3.000 cổ phiếu FPT sẽ nhận được số tiền cổ tức là:

Số tiền cổ tức được nhận = Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền x Mệnh giá cổ phiếu x Số lượng cổ phiếu được nhận cổ tức = 10% x 10.000 x 3.000 = 3.000.000 đồng.

Nghĩa vụ nộp thuế của cổ đông

Theo quy định hiện hành, nếu nhà đầu tư cá nhân được nhận cổ tức bằng tiền sẽ phải nộp 5% thuế thu nhập Cá nhân, phần thuế này sẽ bị khấu trừ luôn tại nguồn. Nghĩa là nhà đầu tư chỉ thực nhận 95% giá trị cổ tức, 5% còn lại sẽ được nộp cho Cục thuế tại Tỉnh / Thành phố mà Công ty Niêm yết đó đóng Trụ sở.

Như vậy, khác với cổ tức bằng cổ phiếu cho phép nhà đầu tư chỉ nộp thuế khi đã bán số cổ phiếu đó đi, tiền thuế từ cổ tức bằng tiền phát sinh ngay tại thời điểm được chia.

Ưu điểm và hạn chế của cổ tức bằng tiền

Ưu điểm

Công ty trả cổ tức bằng tiền sẽ tạo ra thu nhập thực tế cho cổ đông.

Mặt khác, trả cổ tức bằng tiền thể hiện công ty đang hoạt động kinh doanh có hiệu quả, điều này cũng tác động đến giá cổ phiếu, làm cho giá cổ phiếu có khuynh hướng gia tăng.

Hạn chế

Cổ tức bằng tiền làm cho công ty bị sụt giảm một lượng tiền mặt ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của công ty.

Chi trả cổ tức quá nhiều bằng tiền mặt cũng là dấu hiệu cho thấy hoạt động kinh doanh đang bão hòa, công ty không có nhu cầu vốn để gia tăng sản xuất hay tái đầu tư nữa. Do đó phần lớn lợi nhuận sẽ được phân phối hết cho cổ đông.